Hỗ trợ
Chọn ngôn ngữ : English Vietnamese
  • Xin chúc mừng CÔNG TY TNHH THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG LÊ AN đại diện độc quyền phân phối sản phẩm Biofuture
Lĩnh vực kinh doanh
Học tập
Kiến trúc
FAQs
Liên kết website
archmodel.com.vn
 
 
 

Tài liệu 3.21 Nhận dạng bọt

Để khắc phục vấn đề vận hành liên quan đến sản xuất và tích lũy bọt; cần thiết phải xác định đúng bọt sinh ra (Bảng 21.1). Một sơ đồ dòng xử lý sự cố có thể được sử dụng để xác định các bọt xảy ra trong quá trình bùn hoạt tính (Hình 21.1). Việc sử dụng các từ khóa được dựa trên phân tích hiển vi bọt và hỗn hợp dung dịch, kiểm tra các mẫu nước thải và xem xét các dữ liệu hoạt động thích hợp.
 
Bảng 21.1 Các loại bọt chính trong quá trình bùn hoạt tính
Bọt
Cấu trúc và màu
Sinh vật dạng sợi
Nhớt nâu chocolate
Thiếu dưỡng chất
Trắng cuộn (bùn non)
Nhờn xám (bùn già)
Lão hóa bùn ( bùn già)
Trắng cuộn, trắng, nâu, nhớt nâu sẫm and nâu đậm với mảnh vụn
Zoogloeal tăng trưởng
Trắng cuộn
Chất hoạt động bề mặt dư thừa
Trắng cuộn
Tăng độ kiềm
Trắng cuộn
Hiện diện của các polymer cation
Trắng cuộn
Tích tụ FOG
Nhớt nâu đậm hoặc đen
 
 
 
Hình 21.1 Xác định các điều kiện hoạt động chịu trách nhiệm sản xuất bọt.
 
Đọc thêm:
 
THU VÀ BẢO QUẢN MẪU NƯỚC THẢI
 
Các mẫu bọt, hỗn hợp dung dịch và các mẫu nước thải khác cần thiết cho việc xác định bọt nên được thu thập trong chai nhựa sạch có nắp. Một kích thước nhỏ khoảng 50 ml là đủ cho mỗi mẫu. Nên cẩn thận không để gây nhiễm bẩn hỗn hợp dung dịch với bọt hoặc bọt với hỗn hợp dung dịch.
 
Các mẫu nước thải có thể cần được thu thập và sử dụng để xác định các bọt bao gồm bể chứa bùn, centrate, lọc và lắng dòng thứ cấp hoặc hỗn hợp dung dịch.
 
Các mẫu được lấy để xác định các bọt có thể được sử dụng ngay lập tức sau khi thu thập hoặc lưu trữ lên tới 1 tuần. Các mẫu nên được lưu trữ trong chai nhựa sạch và giữ lạnh ở 4°C (± 1°C) .Tất cả các mẫu chai phải được dán nhãn với ngày, giờ và địa điểm của mẫu cũng như màu sắc và kết cấu của mẫu. Ít nhất một nửa thể tích các chai mẫu cần có một khoảng không. Mẫu giữ lạnh được đưa đến nhiệt độ phòng và cần được lắc đều (khuấy động) trước khi sử dụng.
 
SINH VẬT DẠNG SỢI
 
Bọt sinh ra bởi các sinh vật dạng sợi thì sền sệt và màu nâu chocolate. Bọt này thường có các sinh vật dạng sợi sản xuất bọt ở mật độ cao hơn trong dung dịch hỗn hợp. Để xác định xem các sinh vật dạng sợi sản xuất bọt có nhiệm vụ sản xuất bọt trong quá trình bùn hoạt tính như thế nào, các thao tác sau đây được đề xuất:
1) Một lượng hỗn hợp ướt cần được xem xét và đánh giá chủ quan số lượng sinh vật dạng sợi trong dung dịch hỗn hợp phải được thực hiện.
2) Một vệt bọt nên được xem xét và đánh giá chủ quan số lượng sinh vật dạng sợi trong kính phết (mẫu của một chất phết lên để soi kính kiển vi) nên được thực hiện.
3) Nếu các sinh vật dạng sợi ở trong bọt ở mật độ thấp hơn trong dung dịch hỗn hợp, thì nó không giống các sinh vật dạng sợi chịu trách nhiệm sản xuất bọt.
4) Nếu các sinh vật dạng sợi ở trong bọt ở mật độ cao hơn trong dung dịch hỗn hợp, nó có thể là những sinh vật dạng sợi chịu trách nhiệm sản xuất xốp. Nhuộm Gram và nhuộm Neisser vết bọt nên được thực hiện để xác định mật độ tương đối của các sinh vật dạng sợi, đặc biệt là các loại mờ 0092.
5) Do có nhiều sinh vật dạng sợi không tạo bọt, ví dụ như Sphaerotilus natans, loại 021N và loại 1701, nhưng có thể được tìm thấy trong lớp bọt, vì vậy cần thiết xác định những sinh vật dạng sợi chiếm ưu thế trong các bọt để xem liệu chúng có phải là sinh vật dạng sợi tạo bọt không (Bảng 21.2).
 
Bảng 21.2 Sinh vật dạng sợi tạo bọt
Sinh vật dạng sợi
Biết được
Nghi ngờ
Microthrix parvicella
X
 
Nocardioforms
X
 
Nostocoida limicola
 
X
Type 0041
 
X
Type 0092
 
X
Type 0581
 
X
Type 0961
 
X
Type 1863
X
 
 
Nếu các sinh vật dạng sợi chiếm ưu thế trong bọt nhớt và nâu chocolate thì đó là những sinh vật dạng sợi tạo bọt và có mật độ cao hơn trong dung dịch hỗn hợp, những sinh vật dạng sợi này góp phần tạo bọt.
 
THIẾU DƯỠNG CHẤT
 
Bọt được sinh ra bởi các hạt bông thiếu dinh dưỡng thì có màu trắng (nhiều như sóng biển động) khi bùn trẻ và bùn nhờn màu xám khi bùn già. Để xác định liệu bọt là do các hạt bông thiếu dinh dưỡng trong quá trình bùn hoạt tính hay không, các thao tác sau đây được thực hiện:
1) Thu thập và lọc một mẫu nước thải hỗn hợp dung dịch trong điều kiện tải cao điểm khi cBOD hòa tan có mặt trong chất thải công nghiệp. Phân tích dịch lọc từ hỗn hợp dung dịch số lượng các ion amoni và ion orthophosphate để xác định xem các giá trị mục tiêu cho các chất dinh dưỡng đủ cung cấp.
2) Thực hiện nhuộm màu India trên một mẫu hỗn hợp ẩm thu được trong điều kiện tải cao điểm. Xác định xem hầu hết các hạt bông kiểm tra kết quả nhuộm màu âm hay dương.
3) Xác định bất kỳ sinh vật dạng sợi chiếm ưu thế trong dung dịch hỗn hợp và liệt kê các điều kiện phát triển thích hợp của chúng.
 
Một chỉ số của thiếu hụt chất dinh dưỡng trong quá trình bùn hoạt tính là sự hiện diện của nồng độ các ion amoni và ion orthophosphate trong dung dịch hỗn hợp nước thải lọc ít hơn so với các giá trị đích khuyến cáo là 1,0 mg/l NH4+ và 0,5 mg/l HPO42-. Chỉ số bổ sung cho sự thiếu hụt chất dinh dưỡng bao gồm nhuộm màu India với hầu hết các hạt bông trong hỗn hợp dung dịch và sự hiện diện của sinh vật dạng sợi phát triển nhanh chóng trong sự thiếu hụt dinh dưỡng (Bảng 21.3). Nếu các chỉ số này xảy ra khi có bọt biển trắng (bùn non) hoặc bọt nhờn màu xám (bùn già), thì sự thiếu hụt chất dinh dưỡng được nghi ngờ là góp phần để tạo bọt.
 
Bảng 21.3 Sinh vật dạng sợi sinh sôi nảy nở nhanh chóng trong sự thiếu dưỡng chất
Type 021N
Type 0041
Type 0675
Type 1701
Fungi
Haliscomenobacter hydrossis
Nocardioforms
Sphaerotilus natans
Thiothrix spp.
 
BÙN GIÀ
 
Một số loại bọt sinh học được sinh ra thông qua bùn lão hóa. Những loại này bao gồm màu trắng động, màu trắng sắc nét, nâu sắc nét, màu nâu sẫm nhớt và sền sệt màu nâu sẫm với các mảnh vỡ. Nếu bọt khác sinh ra thông qua bùn lão hóa không thể được chứng minh, thì bọt sinh ra thông qua bùn lão hóa nên được nghi ngờ. Các loại bọt được sinh ra thông qua bùn lão hóa có thể tương quan với tuổi bùn, cấu trúc hạt bông, chất rắn lắng nước thải thứ cấp và động vật nguyên sinh chiếm ưu thế và metazoa trong bùn hoạt tính (Hình 21.2).
 
 
Hình 21.2 Sự lão hóa  các hạt bông, bọt, động vật nguyên sinh, sinh vật dạng sợi và metazoa. Với sự gia tăng tuổi bùn, một số biến đổi quan trọng xảy ra trong sự phát triển của các hạt bông, bọt, nhóm động vật nguyên sinh chiếm ưu thế, sự hiện diện của sinh vật dạng sợi và sự xuất hiện của metazoa. Những biến đổi trong sự phát triển của các hạt bông có thể quan sát được thông qua kiểm tra bằng kính hiển vi hoặc có thể được quan sát thấy trong các loại hạt bông xuất hiện trên bề mặt của vùng lắng thứ cấp. Những thay đổi trong bọt có thể được quan sát thấy đối với kết cấu và màu sắc của nó và các nhóm sinh vật đơn bào chiếm ưu thế và sự xuất hiện của một số lượng lớn metazoa có thể tương quan với sự gia tăng hiệu quả xử lý.
 
Bọt trắng cuộn
 
Bọt trắng cuộn được tạo ra khi mật độ vi khuẩn tương đối nhỏ hoặc nồng độ MLVSS thấp, ví dụ <1000 mg/l. Khi mật độ vi khuẩn nhỏ có trong bùn hoạt tính, chất hoạt động bề mặt không bị phân hủy đầy đủ. Các chất hoạt động bề mặt nondegraded tạo bọt hoặc bọt trắng cuộn.
 
Bọt trắng
 
Bọt trắng sắc nét được tạo ra khi quá trình bùn hoạt tính được vận hành đúng. Mật độ đầy đủ các vi khuẩn có mặt để làm suy giảm hoạt động các chất bề mặt trong các dòng thải. Bởi vì sự phân hủy các chất hoạt động bề mặt và sự hiện diện chỉ một số lượng tương đối nhỏ các chất tiết sinh học trong các hạt bông, nên bọt trong bể sục khí thì trắng sắc nét.
 
Bọt nâu
 
Bọt nâu sắc nét được sinh ra trong bùn già khi một lượng lớn các chất tiết sinh học (chất béo và các loại dầu) đã được hấp thụ bởi các hạt bông. Các chất tiết hấp thụ bao bọc bởi bong bóng và các loại khí và màu nâu thu được của chất tiết trong bọt. Bọt nâu còn xảy ra ​​trong một quá trình sục khí mở rộng được hoạt động đúng cách. Bọt nâu xảy ra trong một quá trình bùn hoạt tính truyền thống được vận hành với bùn già.
 
Bọt nhớt nâu đen
 
Bọt nhớt màu nâu sẫm được sinh ra trong một quá trình bùn hoạt tính với bùn quá già. Vì bùn già, số lượng lớn sinh vật dạng sợi tạo bọt phát triển chậm có thể có mặt. Số lượng lớn các chất béo từ các sinh vật dạng sợi tạo bọt, chất tiết từ vi khuẩn tạo bông và sự hiện diện của bong bóng khí thì chịu trách nhiệm cho việc sản xuất bọt nhớt màu nâu sẫm.
 
Bọt gelatin nâu sẫm với mảnh vụn rác
 
Bọt Gelatin màu nâu sẫm với các mảnh vỡ được sinh ra trong quá trình bùn hoạt tính khi số lượng đáng kể vật liệu hạt đã được hấp thụ vào các hạt bông. Số lượng đáng kể vật liệu hạt được lấy ra từ số lượng lớn bùn trong một quá trình bùn hoạt tính rất ổn định. Quá trình này có rất nhiều vi khuẩn và các quần thể tương đối lớn và tích cực của động vật nguyên sinh có lông và metazoa.
 
TĂNG TRƯỞNG ZOOGLOEAL
 
Bọt được sinh ra bởi sự tăng trưởng Zoogloeal có màu trắng cuộn. Để xác định liệu bọt sinh ra là do Zoogloeal tăng trưởng trong quá trình bùn hoạt tính hay không, các thao tác thực hiện sau đây:
1) Một lượng hỗn hợp dung dịch cần được kiểm tra về sự có mặt của tăng trưởng Zoogloeal vô định hình hoặc đuôi gai.
2) Nếu tăng trưởng Zoogloeal được tìm thấy, số lượng nó (đáng kể hoặc không đáng kể) nên được xác định.
Nếu tăng trưởng Zoogloeal đáng kể được tìm thấy và bọt trắng cuộn hiện diện trên bề mặt của bể sục khí, thì tăng trưởng Zoogloeal nên được nghi ngờ là góp phần để sinh ra bọt.
 
CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT DƯ
 
Sự hiện diện của các chất bề mặt quá nhiều hoặc điều kiện quá trình giới gạn tương tự chat hoạt động bề mặt dư thừa kết quả dẫn đến sản sinh ra bọt hoặc bọt trắng cuộn (Bảng 21.4). Để xác định liệu bọt sinh ra là do chất hoạt động bề mặt, phân tích hóa học nồng độ chất hoạt động bề mặt trong hỗn hợp dung dịch cần được thực hiện theo các phiên bản mới nhất của phương pháp chuẩn. Nếu sự gia tăng đáng kể nồng độ chất hoạt động bề mặt xảy ra mà không có sự gia tăng nồng độ MLVSS hay sự hiện diện của một điều kiện quá trình hạn chế xảy ra, thì sự hiện diện của chất haotj động bề mặt dư thừa nên được nghi ngờ là góp phần sinh ra bọt.
 
Bảng 21.4 Điều kiện hoạt động giới hạn cho phép tạo bọt từ chất hoạt động bề mặt
Nồng độ MLVSS thấp (<1,000 mg/l)
Bùn xả của chất hoạt động bề mặt
Độc tính
 
TĂNG ĐỘ KIỀM
 
Sự gia tăng độ kiềm trong quá trình bùn hoạt tính dẫn đến một sự thay đổi trong sức căng bề mặt của hỗn hợp dung dịch. Thay đổi sức căng bề mặt này cho phép sản sinh ra bọt trắng cuộn. Sự gia tăng độ kiềm có thể xảy ra thông qua việc xả chất thải kiềm (ví dụ như các ion amoni) đến quá trình bùn hoạt tính hoặc thông qua việc xả thải các hợp chất nitơ-hữu cơ như protein giải phóng các ion amoni khi chúng phân hủy.
 
Để xác định liệu bọt sinh ra là do sự gia tăng độ kiềm, phân tích hóa học của các mẫu hỗn hợp dung dịch dòng vào cho số lượng kiềm và tổng nitơ Kjeldahl (TKN) phải được thực hiện theo các phiên bản mới nhất của phương pháp chuẩn. TKN đo lượng hợp chất nitơ-hữu cơ trong mẫu nước thải. TKN hỗn hợp dung dịch dòng vào cung cấp một ước tính số lượng của các ion amoni có thể được giải phóng khi các hợp chất nitơ-hữu cơ phân huỷ.
 
Cứ mỗi 5 mg/l các hợp chất nitơ-hữu cơ bị phân hủy thì có khoảng 2 mg/l ion amoni được giải phóng (sinh ra).
Nếu tăng đáng kể nồng độ kiềm và TKN của hỗn hợp dung dịch dòng vào xảy ra, thì tăng độ kiềm nên được nghi ngờ là góp phần sinh ra bọt.
 
HIỆN DIỆN CÁC POLYMER CATION
 
Polyme cation, đặc biệt là polyme polyacrylamide thường được sử dụng tại các quá trình bùn hoạt để kết bắt (kết dính) các chất rắn, rắn khử nước (bùn) và các chất rắn dày đặc (bùn). Polyme cation polyacrylamide chứa hai hợp chất là acrylamide và axit acrylic (hình 21.3). Các axit acrylic được liên kết với một amin bậc bốn. Nếu polyme cation polyacrylamide được áp dụng sai hoặc sử dụng vượt quá và các polymer vào quá trình bùn hoạt tính, bọt trắng cuộn có thể được sinh ra.
 
 
Hình 21.3 Các hợp chất hóa học polymer cation polyacrylamide. Polyme cation polyacrylamide chứa acrylamide và axit acrylic. Các axit acrylic chứa một amin bậc bốn. Khi polyme cation polyacrylamide phân hủy trong bể sục khí; nhóm amino (-NH2) và các amin bậc bốn được sinh ra. Các hợp chất này được giải phóng một cách nhanh chóng chuyển thành ion amoni (NH4+) trong bể sục khí. Các ion amoni sinh ra làm tăng độ kiềm và thay đổi sức căng bề mặt của nước thải cho phép tạo bọt xảy ra.
 
Bọt trắng cuộn sinh ra là kết quả của sự phân hủy các polymer.
 
Khi phân hủy polymer, nhóm amin (-NH2) được sinh ra trong bể sục khí.
 
Các nhóm này sẽ được chuyển đổi một cách nhanh chóng thành các ion amoni (NH4+). Các ion amoni làm tăng độ kiềm và làm thay đổi sức căng bề mặt của hỗn hợp dung dịch, dẫn đến việc sinh ra bọt trắng cuộn.
 
Để xác định liệu bọt sinh ra là do sự hiện diện của polyme cation polyacrylamide hay không, các thao tác thực hiện sau đây:
1) Thu thập mẫu dòng chất thải nghi ngờ đã được tiếp xúc với các loại polyme, ví dụ lắng dòng thải thứ cấp (chính) hoặc lọc.
2) Thu thập mẫu bùn phân hủy đang được chuyển đến cho các máy ép bùn. Hãy chắc chắn rằng các cặn thức ăn không tiếp xúc với các loại polyme được sử dụng cho máy ép bùn.
3) Trộn từ từ và nhẹ nhàng với nhau khoảng 50 ml dòng chất thải nghi ngờ và khoảng 50 ml bùn phân hủy trong một cốc thủy tinh sạch và giữ cho mẫu hỗn hợp không bị xáo trộn. Nếu bông bùn phân hủy, thì các dòng thải nghi ngờ có chứa polymer dư thừa.
Nếu polymer cation polyacrylamide dư thừa có mặt trong một dòng chất thải đi vào quá trình bùn hoạt tính và bọt trắng cuộn xuất hiện trên bề mặt của bể sục khí, thì polymer cation polyacrylamide dư thừa nên được nghi ngờ là góp phần sinh ra bọt.
 
TÍCH LŨY CÁC FOG
 
Sự tích tụ của FOG trên bề mặt của các hạt bông sinh ra bọt nhớt màu nâu sẫm hoặc đen. Dầu mỏ và dầu mỡ chịu trách nhiệm sinh ra bọt nhớt đen. Để xác định liệu bọt sinh ra là do sự tích tụ của FOG, các thao tác thực hiện sau đây:
1) Một lượng hỗn hợp dung dịch cần được kiểm tra sự hiện diện của một lớp phủ FOG trên nhiều hạt bông và nhuộm màu ngược India một lượng mẫu nên được kiểm tra để xác định sự hiện diện của các giọt dầu có chứa các hạt bông nhỏ và tăng trưởng phân tán.
2) Phân tích dầu và mỡ của hỗn hợp dung dịch cần được thực hiện theo các phiên bản mới nhất của phương pháp chuẩn để xác định xem liệu nồng độ cao của các loại dầu và mỡ có mặt không.
3) Phân tích các phần trăm MLVSS nên được thực hiện để xác định xem sự gia tăng đáng kể phần trăm MLVSS đã xảy ra.
 
Nếu các phân tích dưới kính hiển vi cho thấy sự hiện diện của FOG và có sự gia tăng đáng kể nồng độ FOG và phần trăm MLVSS trong hỗn hợp dung dịch, thì sự tích tụ của FOG nên được nghi ngờ là góp phần sinh ra bọt.
 
Đọc thêm:
 
 
Mr. Đoàn Thịnh - KS. Kỹ thuật môi trường (ĐHBK)
Biofuture Sales Executive
 
Comment
Company name :
Business type (*) :
Business field :
    Location and contact person
Country :
Address :
Tel :
Full name of Contact person :
Hand phone :
Email (*) :
Your website :
Subject :
Content :
Attach file :
Confirmation Code : g4542
    Send
Từ điển - Dictionary
  • mkvietnam.vn

  • ecoworld.com.vn

  • MK Việt Nam

  • mkc.builders

  • mkc.equipment

  • mkc.construction

  • mkc.technology

  • mkc.contractors

  • mkc.solutions

  • aln.com.vn

Đại diện Hãng BioFuture Ltd
Exchang Rates (vcb.com.vn)
CurrencyBuySell
AUD16180.8216555.28
CAD17529.5817989.55
CHF23285.3623848.23
EUR25954.6726814.57
GBP28781.8329242.68
HKD2936.823001.8
JPY212.87222.75
KRW18.0920.65
SGD16910.317215.47
THB740.47771.36
USD2319023310
Hỗ trợ
Sales & Consulting
Ông. Lê Quang Thái
Giám Đốc
Phone: 0913 153 059
Email: quang@archmodel.com.vn
Dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7
Giám Đốc
Phone: 0913 153 059
Email: quang@archmodel.com.vn