Hỗ trợ
Chọn ngôn ngữ : English Vietnamese
  • Xin chúc mừng CÔNG TY TNHH THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG LÊ AN đại diện độc quyền phân phối sản phẩm Biofuture
Lĩnh vực kinh doanh
Học tập
Kiến trúc
FAQs
Liên kết website
archmodel.com.vn
 
 
 

[HOT] Câu hỏi 7.1.1. Nước thải đầu ra của tôi sau bể SBR có nồng độ BOD cao, tôi phải làm gì?

 
1. TỔNG QUAN
 
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOB) bao gồm cacbon và nitơ trong nước thải có thể được phân hủy nhờ các vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn, với việc sử dụng oxy hòa tan (DO). BOD tương ứng với số lượng oxy hòa tan (mg/L) được tiêu thụ bởi các vi sinh vật để phân huỷ (oxy hóa) các chất thải chứa cacbon và nitơ. BOD được sử dụng để xác định nồng độ của nước thải, các giá trị BOD (mg / L) cao hơn, nhu cầu oxy hòa tan (mg/L) lớn hơn, các vi sinh vật cần để phân huỷ các chất thải và chất ô nhiễm nhiều hơn. BOD của nước thải thường được thực hiện qua một giai đoạn 5 ngày, và giai đoạn 5 ngày thường được chọn làm mốc và được kí hiệu "5" trong BOD5.
 
Các quá trình oxy hóa của chất thải chứa cacbon và nitơ xảy ra thông qua các phản ứng hóa học bên trong các vi sinh vật. Phản ứng hóa học bên trong các vi sinh vật được biết đến như là các phản ứng sinh hóa. Do đó, lượng oxy theo yêu cầu của các vi sinh vật để oxy hóa các hợp chất chứa cacbon và nitơ trong nước thải được gọi là nhu cầu oxy sinh hóa.
 
Nước thải chứa carbon hoặc chất hữu cơ bao gồm các hợp chất có chứa carbon và hydro. Nước thải chứa carbon, tạo nên BOD hoặc cBOD.
 
Ví dụ về các hợp chất chứa cacbon bao gồm các axit như acetate hoặc giấm (CH3COOH), cồn như là ethanol (CH3CH2OH), và các loại đường như là glucose (C6H12O6). Chất thải chứa nitơ bao gồm các hợp chất có thể bị phân hủy hoặc bị oxy hóa bởi vi khuẩn nitrat. Chỉ có hai loại nitơ chứa trong chất thải được oxy hóa bởi vi khuẩn nitrat. Những chất này bao gồm amoni (NH4+) và nitrit (NO2-).
 
Có một nhóm BOD chứa cacbon góp phần tạo nên nBOD. Nhóm này bao gồm hợp chất nitơ hữu cơ như axit amin (hình 10.1) và protein. Axit amin là thành phần cấu tạo nên protein. Mặc dù những hợp chất có chứa carbon và hydro thì được gọi là hợp chất cBOD, ngoài ra chúng còn chứa nitơ dưới hình thức như các nhóm amin (-NH2). Khi các hợp chất nitơ hữu cơ bị phân hủy, các nhóm amin được giải phóng. Việc giải phóng các nhóm amin được gọi là sự amoni hóa (ammonification) và kết quả là sản sinh amoni tại các giá trị pH <9,4.
 
 
Hình 10.1 Ví dụ về các axit amin. Có 20 axit amin tự nhiên. Tất cả các axit amin có chứa một nhóm axit cacboxylic (-COOH) và một nhóm amino (-NH2). Ví dụ về một số axit amin béo đơn giản bao gồm glycine (H2NCH2COOH), alanine (CH3CH(NH2)COOH), và valine (HOOCCHNH2C(CH3)2).
 
Có một số loại cBOD (Bảng 10.1) và chỉ có một loại nBOD.
 
Bảng 10.1 Các loại BOD
Các loại BOD   
Tỉ lệ phân hủy tương đối
BOD  tổng 
Dựa vào cấu trúc của BOD
Carbonaceous BOD   
Dựa vào cấu trúc của cBOD
 BOD dạng hạt
Tốc độ phân hủy chậm
 BOD dạng keo
Tốc độ phân hủy chậm
 Carbonaceous BOD hòa tan   
Tốc độ phân hủy nhanh
Nitrogenous BOD    
Tốc độ phân hủy nhanh chống sau khi một lượng cBOD đáng kể bị phân hủy
 
BOD carbon bao gồm dạng hạt, keo, và các loại hòa tan. cBOD dạng hạt và dạng keo giảm từ từ, trong khi cBOD hòa tan giảm nhanh chóng. Một ví dụ về BOD dạng hạt  là cellulose. Cellulose (Hình 10.2) là một loại tinh bột không hòa tan và có thể dễ dàng quan sát thấy như là chất "sợi" trong cần tây hoặc các lớp phủ trên hạt ngô và đậu Hà Lan. cBOD dạng keo bao gồm các phân tử phức tạp như protein có diện tích bề mặt lớn, không hòa tan trong nước thải, và lơ lửng trong nước thải. cBOD hòa tan bao gồm các phân tử đơn giản như axit, rượu và các loại đường.
 
 
Hình 10.2 Cellulose. Cellulose là một loại tinh bột không hòa tan. Cellulose bao gồm một chuỗi các đường đơn (glucose) được liên kết với nhau bởi liên kết hóa học duy nhất. Chỉ có những vi khuẩn sinh các enzyme phá vỡ các liên kết hóa học mới có khả năng thủy phân cellulose thành đường đơn hòa tan có thể được hấp thụ bởi nhiều vi khuẩn và bị phân hủy.
 
Cơ quan quản lý yêu cầu các cơ sở xử lý nước thải làm giảm lượng BOD hoặc cBOD trong nước thải trước khi xả thải. Nhưng những thay đổi không mong muốn trong số lượng và / hoặc chất lượng (thành phần) của dòng đầu vào hoặc điều kiện không mong muốn trong bể SBR có thể làm cho BOD hoặc cBOD vượt quá quy chuẩn. Có một số điều kiện vận hành khiến cho BOD vượt quá giới hạn.
 
Những điều kiện vận hành này bao gồm:
* Phân hủy sinh học chất thải rắn (có thể nổi trên mặt nước và lơ lửng).
* Sự thay đổi trong giai đoạn hiếu khí
* F/M
* Tải trọng thủy lực
* MLVSS
* Tải trọng hữu cơ
* pH
* Tổng chất rắn hòa tan (TDS)
* Nhiệt độ giảm
* Giảm quá trình nitrat hóa
* Mức độ oxy hòa tan thấp
* Thiếu hụt dinh dưỡng
* Sục khí quá mức
* Độc tính
* TSS cao
 
PHÂN HỦY SINH HỌC CHẤT THẢI RẮN (CÓ THỂ NỔI TRÊN MẶT NƯỚC VÀ LƠ LỬNG)
 
Chất rắn mà không lắng trong giai đoạn lắng có thể trở thành chất thải rắn. Nếu các chất rắn thải bị phân hủy góp phần tăng BOD - sau đó tăng hoạt động lắng BOD. Chất rắn trong nước thải bao gồm chất rắn có thể nổi trên mặt nước và chất rắn lơ lửng.
 
Chất rắn có thể nổi trên mặt nước bao gồm bọt và váng bọt, trong khi chất rắn lơ lửng bao gồm các tế bào bị phân tán, các hạt bông bùn, sinh vật dạng sợi, và các vật liệu dạng hạt. Chất rắn có thể nổi trên mặt nước và lơ lửng thường chứa chất keo hấp phụ.
 
Chất rắn có thể nổi trên mặt nước bao gồm bọt và váng bọt được xem xét trong phần 12, “Troubleshooting Foam and Scum Production.” Váng bọt tượng trưng cho một số lượng tương đối lớn các vi khuẩn chết dần do sự thay đổi nhiệt độ theo mùa trong nước thải, độc tố, và sự thiếu hụt dinh dưỡng. Bọt và váng bọt có thể phân hủy và góp phần tăng BOD.
 
 
SỰ THAY ĐỔI TRONG GIAI ĐOẠN HIẾU KHÍ
 
Một sự thay đổi hoặc giảm thời gian trong giai đoạn phản ứng có thể làm tăng BOD trong nước thải (Đọc thêm: Câu hỏi 7.1.1. Nước thải đầu ra của tôi sau bể SBR có nồng độ BOD cao, tôi phải làm gì?).
 
Việc giảm giai đoạn hiếu khí có thể không cung cấp đầy đủ cho việc phân hủy các chất dạng hạt và dạng keo và quá trình nitrat hóa.
Nitrat hóa, quá trình oxy hóa amoni thành nitrat, giảm nBOD một thành phần của BOD.
 
Nước thải có lượng oxy hòa tan xấp xỉ hoặc bằng không mg / L trong hầu hết các pha tĩnh (kỵ khí / lên men), pha làm đầy có giá trị oxy hòa tan ≤0.8 mg/L trong hầu hết các pha làm đầy xáo trộn (thiếu khí). Oxy hòa tan trong các pha phản ứng dần dần tăng lên 3-4 mg/L vào cuối pha phản ứng. Oxy hoà tan tại cuối pha phản ứng> 4 mg/L được xem là dư thừa. Nếu như vậy, thời gian sục khí hoặc tỷ lệ sục khí nên giảm xuống.
 
THAY ĐỔI TỶ LỆ F/M
 
F/M trong bể SBR là tỷ lệ thức ăn (pound BOD) đi vào bể SBR trên số lượng vi sinh vật (pound hỗn hợp chất rắn lơ lửng dễ bay hơi) có mặt trong SBR. Hệ thống xử lý thường hoạt động ở các giá trị cụ thể hoặc khoảng giá trị F/M (ví dụ, ≤ 0.08 cho quá trình nitrat hóa), và những thay đổi của trong F/M có thể ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý.
 
F/M tăng hoặc giảm theo những thay đổi của nồng độ BOD và MLVSS.
 
Đọc thêm
 
 
Nếu một lượng dư BOD đi vào bể  SBR (ví dụ, một lượng lớn BOD hòa tan) và không bị phân hủy hoàn toàn, và đi qua pha lắng. Nếu lượng BOD đi vào SBR thiếu, nhiều vi khuẩn có thể chết do thiếu dinh dưỡng. Vi khuẩn chết trong quá trình autolysis ("tự nhân đôi") và những thành phần của tế bào (BOD) mất đi trong pha lắng. Các thành phần này cũng dẫn đến hình thành váng bọt.
 
THAY ĐỔI TẢI TRỌNG THỦY LỰC
 
Sự thay đổi đáng kể trong tải trọng thủy lực có thể dẫn đến tăng BOD trong lắng của một bể SBR dòng chảy liên tục hay SBR dòng chảy đơn. Việc tăng tải trọng thủy lực có thể xảy ra do một sự cố kỹ của hệ thống xử lý để cân bằng dòng chảy, việc tăng lượng nước thải xả vào bể SBR, hay sự xuất hiện của dòng vào/nước thấm  (Inflow/Infiltration (I/I)) đòi hỏi giảm thời gian của các giai đoạn (thời gian chu kỳ ngắn hơn), đặc biệt là giai đoạn phản ứng. Việc tăng tải trọng thủy lực làm giảm thời gian xử lý BOD trong điều kiện hiếu khí dẫn đến BOD dư thừa trong lắng.
 
THAY ĐỔI TẢI TRỌNG HỮU CƠ
 
Sự thay đổi tải trọng chất hữu cơ có thể xảy ra như là một sự gia tăng về lượng BOD thu nhận được hay sự hiện diện nhiều BOD hòa tan. Ví dụ, một lượng lớn BOD, đặc biệt là cBOD hòa tan, có thể dẫn đến một lượng dư BOD trong lắng, nếu pha phản ứng không được điều chỉnh để xử lý BOD dư thừa.
 
THAY ĐỔI pH
 
Tăng và giảm pH ở trên hoặc dưới (tương ứng) phạm vi hoạt động tối ưu pH (6,8-7,2) có thể gây nên các vấn đề hoạt động bao gồm giảm hiệu quả xử lý BOD. Sự thay đổi pH đột ngột trên hoặc dưới khoảng pH hoạt động tối ưu sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt tính enzyme của vi khuẩn và khả năng oxi hóa BOD của vi khuẩn, đặc biệt là nBOD. COD không bị oxy hóa trong SBR đi đến pha lắng trong SBR.
 
Sự thay đổi pH (Đọc thêm: Câu hỏi 10.1.1 Yếu tố làm thay đổi pH trong bể SBR? Cách kiểm soát pH?) cũng ảnh hưởng xấu đến việc hình thành các bông bùn. Tại giá trị pH không mong muốn, các hạt bông bùn trở nên yếu và nổi lên trên mặt. Những hạt này có thể dễ dàng bị phân cắt và nổi lơ lửng, dẫn đến sự mất mát của chất rắn (chất keo và các hạt BOD) trong lắng. Các chất rắn từ các hạt bông bùn cũng đại diện cho sự mất mát của vi khuẩn oxy hóa BOD.
 
SỰ THAY ĐỔI TỔNG CHẤT RẮN HÒA TAN (TDS)
 
Tăng tổng chất rắn hòa tan (TDS) ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của các tế bào vi khuẩn và khả năng xử lý BOD của chúng và hình thành bông bùn dày đặc. Nồng độ TDS > 5.000 mg/L làm cho BOD dư thừa trong lắng do cấu trúc tế bào bị phá hủy. Mặc dù tế bào vi khuẩn có thể dần dần thích nghi với nồng độ TDS> 5.000 mg/L, chúng trải qua nhiều khó khăn để thích nghi với môi trường để làm giảm TDS từ nồng độ > 5.000 mg/L.
 
Một ví dụ về sự tăng nhanh TDS là nước frac trong quá trình bùn hoạt tính. Nước frac là nước rút ra từ hoạt động khoan dầu khí tự nhiên. Nước có chứa nồng độ tương đối cao các chất rắn hòa tan, đặc biệt là các ion clorua và các ion natri. Tuy nhiên, quá trình xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị ít gặp vấn đề TDS.
 
GIẢM NHIỆT ĐỘ
 
Nhiệt độ (Đọc thêm: Tài liệu 2.19 Nhiệt độ) nước thải  giảm hoạt động của vi khuẩn trong bể SBR giảm.
 
Vì vậy, việc làm cần thiết là tăng nồng độ MLVSS trong khi nhiệt độ giảm để điều hòa hoạt động. Tại 14°C khoảng 50% khả năng oxy hóa cBOD trong bể SBR để bị mất, trong khi khoảng 50% khả năng oxy hóa nBOD của bể SBR bị mất ở 15°C
 
QUÁ TRÌNH NITRAT HÓA GIẢM
 
Nitrat hóa là quá trình oxy hóa amoni thành nitrat. Nitrat hóa làm giảm lượng nBOD trong nước thải và trong pha lắng. Bằng cách giảm lượng nBOD, tổng lượng BOD cũng giảm trong nước thải và lắng. Nếu quá trình nitrat hóa giảm, thì BOD sẽ tăng. Điều kiện hoạt động là nguyên nhân dẫn đến quá trình nitrat hóa bị giảm được xem xét trong phần 5, tựa đề: Troubleshooting Nitrification.
 
MỨC ĐỘ OXY HÒA TAN THẤP
 
Mức độ oxy hòa tan thấp (Đọc thêm: Câu hỏi 11.1.1 Vai trò của nồng độ oxy hòa tan (DO) trong bể bùn hoạt tính?) dẫn đến các vấn đề hoạt động không mong muốn trong bể SBR.
 
Những vấn đề này bao gồm: (1) sự phát triển không mong muốn của các sinh vật dạng sợi bao gồm Haliscomenobacter hydrossis, Microthrix parvicella, Sphaerotilus natans, và chủng 1701, (2) không thể hô hấp nội bào hoặc phân hủy không hiệu quả nguồn thức ăn dự trữ, (3) sản sinh các hạt bông bùn yếu và có xu hướng nổi lên trên mặt nước, (4) giảm quá trình nitrat hóa, và (5) giảm hoạt động của enzym.
 
Sự tăng trưởng không mong muốn của các sinh vật dạng sợi và các hạt bông bùn yếu, nổi lên trên bề mặt làm giảm lượng chất rắn ổn định (BOD) và giảm số lượng vi khuẩn và hiệu quả xử lý.
 
 Giảm quá trình nitrat hóa dẫn đến tăng nBOD trong lắng, và hoạt động enzym giảm làm tăng cBOD trong lắng.
 
THIẾU HỤT DINH DƯỠNG
 
Với hàm nitơ hay phốt pho không đầy đủ, vi khuẩn trong SBR không thể tổng hợp tế bào mới (bùn) thông qua sự phân hủy BOD. Nếu sự tổng hợp tế bào mới không xảy ra, BOD là không bị oxy hóa. BOD không bị oxy hóa trong bể SBR có thể được lưu trữ trong các hạt bông bùn như các hạt tinh bột không hòa tan có thể tổn thất khi hiện tượng bung bùn xuất hiện. Điều kiện vận hành, là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt chất dinh dưỡng (Đọc thêm: Tài liệu 105 Chất dinh dưỡng) nitơ hay phốt pho được xem xét trong Phần 12 Troubleshooting Foam and Scum Production.”
 
SỤC KHÍ QUÁ MỨC
 
Sục khí quá mức trong bể SBR gây nên một số vấn đề hoạt động.
 
Những vấn đề này bao gồm: (1) gia tăng chi phí năng lượng, (2) nitrat hóa và khử nitrat hóa không mong muốn, khi nhà quản lý không yêu cầu, (3) phá hủy cấu trúc, và (4) tăng cường sản sinh bọt. Tỷ lệ sục khí không thích hợp cũng làm phá vỡ các chất rắn tốt. Sự mất mát các chất rắn dẫn đến tăng BOD trong lắng và giảm hiệu quả xử lý. Sục khí qua mức làm sản sinh bọt. Bọt tổn thất trong SBR làm tăng BOD trong lắng.
 
ĐỘC TÍNH
 
Độc tính có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Độc tính cấp tính xảy ra nhanh chóng và kéo dài khoảng 2-3 ngày.
 
Độc tính mãn tính xảy ra từ từ và có thể kéo dài trong vài tuần. Sự hiện diện của độc tính có thể được phát hiện bởi các điều kiện hoạt động sau đây:
• Quá trình nitrat hóa giảm
• Nồng độ ammonium, nitrite và orthophosphate cao trong pha lắng.
• Tổng chất rắn lơ lửng cao trong pha lắng.
• Tăng hút nước.
• Giảm tỷ lệ hấp thu oxy riêng (SOUR).
• Đọc thêm: Tài liệu 46. Toxicity
 
Tỷ lệ hấp thu oxy riêng là một chỉ số về hoạt động của sinh khối trong SBR. SOUR bao gồm tỷ lệ hấp thu oxy (OUR) hoặc tỷ lệ hô hấp (RR) trong hiếu khí và số lượng tương đối vi khuẩn (MLVSS) sử dụng oxy. OUR đo lượng oxy hòa tan (mg/L) được tiêu thụ mỗi giờ. Tỷ lệ hấp thu oxy riêng là OUR chia MLVSS.
 
Để sử dụng SOUR nhằm xác định độc tính có thể có trong SBR, SOUR phải được thực hiện trong điều kiện tải trọng giống nhau mỗi ngày - đó là, giai đoạn phản ứng và thời gian phản ứng như nhau mỗi ngày. Sự giảm đáng kể SOUR có thể phát hiện độc tính. Giá trị này cùng với các điều kiện hoạt động được liệt kê ở trên là hữu ích trong việc xác định độc tính. Để thực hiện SOUR, các phương pháp sau đây được đề nghị:
 
• Thu thập ít nhất 1 lít hỗn hợp nước thải giai đoạn phản ứng.
 
• Ngay sau khi thu thập hỗn hợp chất lỏng, khuấy đều hỗn hợp và chuyển khoảng 750 ml cho vào chai 1L
 
• Đậy nắp chai 1L và lắc hoặc sục khí hỗn hợp để cung cấp nồng độ oxy hòa tan trong các chai trên 5 mg/L.
 
• Đổ một phần hỗn hợp chất lỏng đã được sục khí vào chai BOD và cho chảy tràn. Nếu có bất kỳ bong bóng khí nào bị mắc kẹt trong các chai BOD, hãy vỗ nhẹ vào chai để cho các bong bóng thoát ra.
 
• Nếu đầu dò BOD cho việc thử nghiệm oxy hòa tan có một cánh khuấy, sau đó đặt các đầu dò trong chai BOD và ghi lại nồng độ oxy hòa tan trên thiết bị đo. Nếu đầu dò oxy hòa tan không có cánh khuấy, đặt một thanh khuấy từ trong chai BOD và đặt chai lên một máy khuấy từ. Bắt đầu khuấy và ghi lại nồng độ oxy hòa tan trênthiết bị đo.
 
• Để 30-60 giây cho thiết bị đo đo oxy hòa tan ổn định.
 
• Sau khi thiết bị đo oxy hòa tan đã ổn định, bắt đầu ghi nồng độ oxy hòa tan trong hỗn hợp dung dịch cách nhau 30 giây. Ghi nồng độ oxy hòa tan trong 5 - 10 phút, nhưng không ghi lại nồng độ oxy hòa tan <1 mg/L.
 
• Đồ thị kết quả có được bằng cách vẽ nồng độ oxy hòa tan (mg/L) trên trục tung và thời gian (phút) trên trục hoành.
 
• Vẽ một đường thẳng nối liền phần lớn các điểm. Mở rộng đường để nó đi qua các trục tung và hoành.
 
• Xác định độ dốc của đồ thị. Độ dốc của đồ thị là sự thay đổi trong việc tăng oxy hòa tan (mg trên lít oxy hòa tan) theo thời gian (phút) theo đường thẳng hoặc miligam trên lít oxy hòa tan trong một phút (mg/L O2/phút). Có lẽ cách dễ nhất để xác định độ dốc của đồ thị là sử dụng các điểm mà tại đó các đường thẳng đi qua các trục. Chia mg/lít oxy hòa tan qua trục tung theo thời gian trong vài phút qua trục hoành. Độ dốc của đồ thị là tỷ lệ hấp thu oxy (OUR).
 
• Xác định các tỷ lệ hấp thu oxy riêng (SOUR) theo phương trình sau:
 
SOUR (mg/g)/h = Tỉ lệ oxy tiêu thụ (mg/L) / phút x 60 phút/giờ x 1000 mg/g/MLVSS mg/L
 
* Giá trị SOUR > 20 là “cao” và có thể cho biết MLVSS không đủ cho tải trọng BOD. Giá trị SOUR từ 12 đến 20 là “bình thường” và thường loại bỏ tốt BOD và bùn lắng tốt trong bể SBR.
* Giá trị SOUR < 12 là “thấp” và có thể cho biết có quá nhiều chất rắn hoặc độc tính đang xảy ra.
 
SỰ PHÂN TẦNG
 
Theo thời gian, chất hóa học được thêm vào bể SBR để kiểm soát quá trình vận hành: độ kiềm, pH, chất dinh dưỡng, loại bỏ photpho, kết tủa chất rắn, hoặc các mục đích khác có thể dẫn đến sự tích tụ tăng dần hoặc làm kết tủa các hóa chất không hòa tan hoặc lắng xuống lớp bùn dưới cùng của bể phản ứng.
 
Những chất kết tủa này làm cho hoạt động khuấy trộn không phù hợp, do đó, sự phân tầng của nồng độ oxy hòa tan (Hình 10.3). Phân tầng có thể làm cho hiệu quả xử lý giảm.
 
Vì vậy, để phát hiện và xác định sự phân tầng trong bể SBR, bể phản ứng phải được kiểm tra hàng năm, sáu tháng một lần, hoặc khi cần thiết bằng cách thực hiện thử nghiệm oxy hòa tan trên bề mặt và độ sâu của hỗn hợp chất lỏng (Hình 10.4) để đảm bảo oxy hòa tan phân bố đồng đều. Nếu phân tầng được phát hiện, SBR nên được thoát nước và các loại bỏ các chất kết tủa.
 
 
Hình 10.3 Sự phân tầng của oxy hòa tan. Kết quả sơ đồ phân tầng oxy hòa tan trong các bể phản ứng do sự tích tụ bùn hoặc các hóa chất. Phân tầng khu sản sinh oxy hòa tan cao và thấp là nguyên nhân làm giảm hiệu quả xử lý và tăng trưởng không mong muốn của sinh vật dạng sợi (Haliscomenobacter hydrossis, Microthrix parvicella, Sphaerotilus natans, và chủng 1701).
 
 
Hình 10.4 Mặt cắt oxy hòa tan. Để xác định sự phân tầng của oxy hòa tan xảy ra trong bể SBR, một mặt cắt oxy hòa tan phải được thực hiện trong giai đoạn phản ứng. Nồng độ oxy hòa tan trong dung dịch hỗn hợp có sục khí phải được lấy ở những khoảng cách cố định trên bề mặt của SBR cũng như độ sâu cố định ("X") trong toàn bộ bể SBR.
 
Bể phản ứng, hình chữ nhật hoặc hình vuông có đáy phẳng dễ lắng hơn những bể phản ứng có đáy dốc. Ngoài ra, bể SBR với đáy dốc cần ít thời gian để làm sạch.
 
HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ SỤC KHÍ CHUNG
 
Việc sử dụng nhiều máy thổi khí nhỏ hơn được ưa thích một máy thổi khí lớn cho quá trình  sục khí của bể SBR. Với nhiều máy thổi khí trong mỗi bể phản ứng, máy thổi có thể được thực hiện off - line khi không cần thiết sục khí tối đa hoặc điều kiện tải trọng thay đổi. Nếu một quạt thổi khí đơn được sử dụng, nó có kích thước tối đa để cung cấp khí và được trang bị thiết bị điều khiển có thể điều chỉnh tốc độ.
 
Khuyếch tán các bong bóng khí nhỏ thường được sử dụng trong sục khí của bể SBR. Khi so sánh với bộ khuếch tán khí thô, khuyếch tán bong bóng khí nhỏ chuyển nhiều oxy hơn cho nước thải do tăng diện tích bề mặt của các bong bóng nhỏ tiếp xúc với nước thải. Ngoài ra, độ sâu của các bộ khuếch tán trong nước thải lớn hơn, thời gian cần cho các bong bóng lên bề mặt của nước thải lớn hơn, thời gian tiếp xúc và thời gian chuyển không khí vào nước thải lâu hơn.
 
2. GIẢI PHÁP
 
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ BOD đầu ra của bể SBR và được liệt kê như sau:
* Chất rắn lơ lửng (hoặc nổi) ở đầu ra
* Thay đổi các giá trị
* Thời gian sục khí
* Chỉ số F/M
* Thời gian lưu nước
* MLVSS
* Tải lượng hữu cơ
* pH
* Tổng chất rắn hòa tan (TDS)
* Nhiệt độ
* Sự thiếu hụt nitơ
* DO thấp
* Thiếu dinh dưỡng
* Dư DO
* Độc chất
* Nồng độ TSS đầu ra cao
 
Sau đây là bảng các chỉ số cần đo (lần lượt) khi nồng độ BOD đầu ra ở bể SBR cao
 
Thông số vận hành
Sự cố
Giải pháp
SS
 
 
Thay đổi thời gian sục khí
 
 
Thay đổi F/M
 
 
Thay đổi tải lượng hữu cơ
 
 
Thay đổi pH
 
 
Nhiệt độ
 
 
Thiếu hụt Nitơ
 
 
Nồng độ DO thấp
 
 
Thiếu dinh dưỡng
 
 
Dư DO
 
 
Độc chất
 
 
TSS đầu ra cao
 
 
 
 Để hiểu thêm sự cố BOD đầu ra ở bể SBR, vui lòng theo dõi lần lượt các giải pháp xử lý ở câu hỏi 7.1.2 đến câu hỏi 7.1.12
 
Link câu hỏi liên quan:
 
Ông. Trương Trọng Danh
Ks. Kỹ Thuật Môi Trường - ĐHBK
Sale Manager
Phụ trách chế phẩm vi sinh BioFuture
 
Chi tiết, vui lòng liên hệ với Mạnh Khương, đại diện bán hàng chính thức sản phẩm vi sinh của Nhà sản xuất Ireland BioFuture Ltd tại Việt Nam; chuyên cung cấp công nghệ, giải pháp và sản phẩm sinh học trong kỹ thuật xử lý môi trường.
Comment
Company name :
Business type (*) :
Business field :
    Location and contact person
Country :
Address :
Tel :
Full name of Contact person :
Hand phone :
Email (*) :
Your website :
Subject :
Content :
Attach file :
Confirmation Code : 9n500
    Send
Từ điển - Dictionary
  • mkvietnam.vn

  • ecoworld.com.vn

  • MK Việt Nam

  • mkc.builders

  • mkc.equipment

  • mkc.construction

  • mkc.technology

  • mkc.contractors

  • mkc.solutions

  • aln.com.vn

Đại diện Hãng BioFuture Ltd
Exchang Rates (vcb.com.vn)
CurrencyBuySell
AUD16180.8216555.28
CAD17529.5817989.55
CHF23285.3623848.23
EUR25954.6726814.57
GBP28781.8329242.68
HKD2936.823001.8
JPY212.87222.75
KRW18.0920.65
SGD16910.317215.47
THB740.47771.36
USD2319023310
Hỗ trợ
Sales & Consulting
Ông. Lê Quang Thái
Giám Đốc
Phone: 0913 153 059
Email: quang@archmodel.com.vn
Dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7
Giám Đốc
Phone: 0913 153 059
Email: quang@archmodel.com.vn